Giới thiệu các loại phân đạm, hướng dẫn sử dụng phân đạm

Phân đạm là từ chung, dùng để chỉ các loại phân có chứa nitơ. Nhiều người muốn thay chữ phân đạm bằng phân Nitơ, nhưng chúng tôi thiết nghĩ từ phân đạm đã quá quen với nông dân ta, đã Việt hóa không nhất thiết phải thay đổi bằng một từ khác.

I. GIỚI THIỆU CÁC LOẠI PHÂN ĐẠM

Loại phân đạm phổ thông công nghiệp hóa học cung cấp cho nông dân là loại phân đạm hiệu quả nhanh, dễ hòa tan trong nước lạnh 20-25oC. Các loại phân này phần lớn là phân đơn có hàm lượng N cao. Một số ít là phân phức.

Căn cứ vào gốc chứa đạm mà phân thành hai loại, loại có gốc amôn gọi tắt là phân amôn và loại chứa gốc nitrat gọi là phân nitrat. Các loại phân đạm ở dạng các hợp chất hữu cơ như Urê, foocmanđêhyt urê và canxi xianamit có chứa NH2 (amin) tuy là chất hữu cơ nhưng dễ tan, dễ phân hủy thành amôn, cây dễ sử dụng không khác gì các loại phân vô cơ khác, lại được sản xuất từ công nghệ hóa học nên được xem là phân vô cơ (mặc dầu đó là các chất hữu cơ) và xếp vào nhóm phân amôn.

1. Các loại phân AMon.

Phân chứa chứa gốc amôn có amôn clorua, (A.Cl) Amôn sunfat (A.S) Diamôn phôtphat (DAP) amôn bicacbonat (A.B.C) và dung dịch amôniac.

Trên thương trường nước ta hiện nay chỉ có 3 loại đầu. Các dung dịch amôn được chú ý sử dụng ở các nước sử dụng phân bón vô cơ nhiều và trình độ cơ giới hóa nông nghiệp cao như Mỹ, Canada, và một số nước Tây Âu nhưng thiết bị đắt tiền chỉ áp dụng cho quy mô nông trại lớn nên không được mở rộng.

1.1. Amôn sunfat.

Amôn sunfat thường ở dạng kết tinh nhỏ màu trắng, có thể có màu trắng tinh hay trắng ngà do ảnh hưởng của tạp chất. Để phân biệt với các loại phân khác có khi còn được nhuộm màu xanh. Hình dạng tinh thể, màu sắc không ảnh hưởng gì đến tỉ lệ đạm trong phân và hiệu quả của phân. Sự kén chọn phân theo màu sắc và dạng tinh thể không có cơ sở khoa học.

Phân amôn sunfat có chứa 20 - 21% N và 23 - 24% S. Sản xuất càng thâm canh càng bón ít phân hữu cơ, đất càng lưu dễ thể hiện thiếu lưu huỳnh. Dự kiến trong những năm tới nhu cầu bón lưu huỳnh tăng cao và S sẽ được xem như một yếu tố phân bón. Lúc bấy giờ amôn sunfat sẽ được xếp vào phân phức hai yếu tố N với tỉ lệ N-S: 43-45%. Lưu huỳnh đặc biệt quan trọng cho cây họ thập tự (các loại cải), họ hành tỏi, họ chè (chè, cà phê, ca cao).

Phân amôn sunfat có thể làm chua đất. Muốn khử hết độ chua của 1 tạ amôn sunfat thì phải dùng 1,25 tạ CaCO3 hay 80 kg CaO. Điều bất lợi này rất đáng chú ý ở các vùng đất quá chua và đất phèn. Tuy vậy cũng không nên quá quan tâm vì rằng chỉ phần axit tự do trong phân mới gây chua lâu dài mà phần này rất ít. Sự gây chua do sự hút chọn lọc của cây sẽ giảm nhiều khi tính đến sự hút lưu huỳnh của cây.

Tác dụng gây chua này dễ dàng khắc phục bằng cách dùng kết hợp amôn sunfat với các loại phân lân kiềm như phân lân nung chảy hoặc bột phôtphorit.

Tất nhiên điều bất lợi này sẽ trở thành có lợi đáng kể ở vùng đất có PH quá cao như vùng đất kiềm cực Nam Trung Bộ (Bình Thuận, Ninh Thuận).

Phần lưu huỳnh khá cao cũng có phần gây nên bất lợi khi bón cho đất lầy thụt giàu hữu cơ. Ở đây do điều kiện yếm khí lưu huỳnh bị khử chuyển thành khí H2S phá hoại rễ lúa, làm rễ lúa đen lại, thối. Cây lúa có hiện tượng giống hệt hiện tượng nghẹt rễ lúa thường gặp. Ở các loại đất này nên thay amôn sunfat bằng urê.

ở các vùng đất mặn sunfat cũng nên hạn chế sử dụng amôn sunfat để tránh tình trạng tăng thêm độ mặn.

1.2. Amôn Clorua.

Amôn clorua là loại phân chứa 22,5-23% đạm amôn và có đến 75% Cl-. Người ta thường không ưa amôn clorua vì hai lý do: gây chua và để lại ion Cl- tồn dư trong đất. Ion Cl-  tích lũy nhiều trong đất có thể gây nên mặn Cl-  và ảnh hưởng xấu đến hệ sinh vật trong đất.

Mức độ gây chua của HCl cũng tương tự như amôn sunfat và cũng như amôn sunfat độ chua gây ra do amôn Clorua cũng đáng chú ý nhưng không nên quá quan trọng hóa.

Ion Cl- rất dễ di động. Ở vùng nhiệt đới mưa nhiều, nhất là ruộng trồng lúa, sự tồn đọng ion Cl- trong đất không phải là vấn đề đáng quan tâm. Thí nghiệm bón NH4Cl ở nông trường Ninh Hải sau 6 vụ liền không phát hiện thấy ion Cl- tích lũy đáng kể trong đất.

Vai trò của ion Cl- đối với cây trông chưa được nghiên cứu nhiều. Hàm lượng Cl- trong thân lá một số cây còn cao hơn đạm và lân. Ví dụ trong rơm rạ lúa, hàm lượng Cl- là 1,06%, còn đạm là 0,6%, P là 0,09% (S.Yoshida). Ở các nước ôn đới hiệu quả của Cl- thể hiện ở một số cây mì mạch, củ cải đường.

Ở các vùng trồng lúa thâm canh được tưới sau nhiều năm Cl- bị cây hút và bị rửa trôi nên đất nghèo Cl- lẻ tẻ xuất hiện sự thiếu Cl-. Nông dân ta có tập quán bón muối cho ruộng. Chắc rằng hai ion Cl- và Na+ trong muối đều có tác động tích cực.

Vấn đề tác dụng của Cl- đến mức nào, triển vọng cần được xem Cl- là yếu tố dinh dưỡng như S hay không, chắc rằng còn nhiều tranh luận. Nhưng điều có thể khẳng định là bón amôn clorua không gây hậu quả tích lũy Cl- đến mức gây hại như ở các nước ôn đới. Nước ta có bờ biển dài trên  2500 km, có thể sản xuất nhiều muối từ đó có thể sản xuất axit clohydric và amôn clorua.

Các thí nghiệm bón amôn clorua cho lúa so với amôn sunfat hay urê đều cho hiệu quả tương đương có trường hợp còn cao hơn amôn sunfat một cách đáng tin cậy (trường hợp đất phèn và đất mặn sunfat - Lê  Văn Căn).

Tuy nhiên, có một số loại cây nên hạn chế sử dụng amôn clorua. Thuốc lá, thuốc lào amôn clorua làm cho lá thuốc dày và chậm cháy. Hành tỏi gây mùi hôi, khoai tây, cà chua, cỏ chăn nuôi, cà rốt, đậu rau, bắp cải và loại rau khác vì làm tăng hàm lượng nước và làm giảm phẩm vị. Ở các nước phương tây, amôn clorua ít được dùng như phân đơn mà dùng ở dạng phân bón có chứa 2 thành phần amôn clorua và kali nitrat, ít bị chảy nước hơn dùng các loại phân này đơn lẻ.

1.3. DAP – diamôn phôtphat.

Diamôn phôtphat là loại phân phức hai yếu tố ni tơ và phootspho với tỉ lệ 18-20% N và 46-50% P2O5. Vì dân ta chú ý nhiều phần Nitơ trong phân nên loại này thường được xem là phân đạm ở dạng amôn, thực ra loại phân này nên được xem là phân lân thì đúng hơn. Sẽ nói sau trong phần Phân Phức.

1.4. Urê.

Urê là một loại phân đạm ở dạng hữu cơ CO(NH2)2 có chứa 46% N ở dạng amin NH2. Nhà máy phân đạm Bắc Giang sản xuất urê hạt nhỏ, tỉ lệ N 46%, chất lượng không khác gì urê nhập ngoại. Màu sắc trắng hay vàng ngà, hạt to nhỏ không liên quan gì đến chất lượng urê. Để giảm bớt chảy nước urê còn được sản xuất dưới dạng viên nhỏ như trứng cá. Khi bón vào đất, urê phân giải rất nhanh thành amôn cacbonat (NH4)2CO3 và amôn bicacbonat (NH4HCO3). Cây cũng có thể hút được một ít urê ở dạng phân tử nhưng không nhiều lắm.

Vì hiệu quả nhanh như các loại phân hóa học vô cơ khác và gốc cung cấp chủ yếu đạm cho cây là đạm amôn nên thường được xếp vào loại phân vô cơ có chứa amôn. Khi chưa thủy phân urê không bị đất giữ lại, thấm rất nhanh, chỉ sau khi bị thủy phân xong mới bị đất giữ lại như các loại phân amôn khác. Sự thủy phân urê là do hoạt động của loại vi sinh vật phân giải urê, vì vậy tốc độ thủy phân tùy thuộc nhiệt độ, độ ẩm của  đất. Ở đất cát nghèo hữu cơ, thiếu nước hoạt động của vi sinh vật yếu thì sau 7, 8 ngày urê mới bị phân hủy hết. Trên loại đất này bón urê dễ bị mất và không hiệu quả bằng amôn sunfat.

Urê khi mới bị thủy phân, hơi gây kiềm có khả năng khử chua nhưng không cao, khoảng dưới nửa đơn vị PH và chỉ thể hiện trong thời gian ngắn. Phản ứng cuối là gây chua nhẹ. Khí CO2 sản sinh làm cho tỷ lệ CO2 trên mặt đất tăng lên có lợi phần nào cho quang hợp. Urê  không để lại chất thừa nào có hại trừ phần amôn có thể bị rửa trôi vào nước. Do dễ hòa tan không gây hại cho lá cây nên urê thích hợp phun lên lá và dùng để tưới hơn các loại phân đạm khác. Nó cũng có thể được dùng để trộn với các loại thuốc bảo vệ thực vật để phun lên cây và tưới vào đất.

Trong phân urê thường chưa biurê. Biurê là kết quả của sự hợp thành của hai phân tử urê và giảm đi một phân tử NH3 nếu trong quá trình sản xuất không khống chế được nhiệt độ để tăng quá cao. Tùy theo quy trình công nghệ mà trong urê có chứa lượng biu rê khác nhau. Biurê có thể làm hại cây hoặc làm chết cây nếu tỉ lệ quá cao. Tỷ lệ biu rê 2,5 -3,1 % có thể gây độc cho cây. Mức quy định lượng Biurê tối đa trong phân thương mại phải thấp hơn 1,2%. Tuy nhiên trường hợp phân có chứa biurê cao cũng không khó khắc phục vì biurê cũng như urê thủy phân nhanh chóng và dễ dàng trở thành amôn cacbonat. Dùng phân urê bón cho đất màu nếu lượng biurê cao sợ gây hại thì chỉ cần trộn phân với đất bột 2 ngày và đem bón, sẽ tránh được hại do biurê. Không phải loại cây nào cũng dễ bị độc do biurê. Các loại hòa thảo, đặt biệt là lúa nước hầu như không bị độc do biurê.

Khác với amôn sunfat phân urê có thể trộn được với phân lân “cứt sắt” (còn gọi là phân lân Tômat hay Toomat sơlăc), phân lân nung chảy nhưng không nên giữ quá lâu.

Urê – lưu huỳnh: là loại sản phẩm mới được đưa ra thị trường. Urê – Lưu huỳnh được sản xuất bằng cách làm cho urê và lưu huỳnh nóng chảy và quyện vào nhau sau đó tạo thành viên. Loại phân này có lý tính tốt, ít chảy nước.

Sau khi bón vào đất, urê sẽ hòa tan và để lại màng mỏng lưu huỳnh nguyên tố. Lưu huỳnh sẽ bị oxy hóa do lưu khuẩn thành sunfat.

Urê - phôtphat. Để sản xuất loại phân này, người ta cho trộn lẫn hai dung dịch sền sệt urê và điamôn phôtphat trước hoặc trong quá trình tạo viên. Loại phân này có chứa 29% N và 12,7 P (29% P2O5). Loại phân này cũng có thể sản xuất bằng cách cho tác động urê với axit phootphoric. Sản phẩm thu được có chứa 17,7% N và 19,6% P (44,9% P2O5).

Foocmanđêhyt Urê (U.F) là loại phân đạm hiệu quả chậm được tạo thành do tác động urê với anđehyt foocmic. Tùy theo tỷ lệ giữa urê và anđehyt foocmic mà tỉ lệ đạm trong phân khác nhau. Loại phân thông dụng trên thị trường Mỹ có tỷ lệ N 38%, tỷ lệ N tan trong nước nguội 250C là 10%, tỷ lệ N tan trong nước nóng 95-1000C là 28%.

Anđehyt foocmic còn gây tác dụng ức chế hoạt động của các loại vi sinh vật phân giải urê và vi sinh vật nitrat hóa. Nếu trộn urê và anđêhyt foocmic với tỷ lệ 1-1 thì hoạt động phân giải urê và nitrat hóa bị ức chế hoàn toàn. Càng giảm lượng anđêhyt foocmic thì sự phân giải càng nhanh, đến tỉ lệ 2-1 thì tốc độ phân giải và nitrat hóa gần như urê bình thường và sự nitrat hóa gần như amôn sunfat. Tỷ lệ thông dụng là 1,5 – 1.

1.5. Amôn bicacbonat. (NH4HCO3).

Amôn bicacbonat là loại phân đạm được điều chế từ dung dịch amôniac và khí cacbonic. Vì loại phân này dễ dàng bị phân hủy ở nhiệt độ cao trên 300C và áp suất bình thường nên ít được sử dụng. Từ khi kỹ nghệ bao bì bằng túi poly etylene phát triển loại phân này được chú ý hơn.

Amôn bicacbonat là loại phân kết tinh màu trắng có chứa 17,5% N hòa tan trong nước dễ dàng và tạo ra phản ứng kiềm tạm thời, có thể khắc phục độ chua của đất nhưng khi gốc amôn được cây hút thì phản ứng trở lại trung tính.

Amôn bicacbonat khi bị phân hủy cho khí CO2 tản ra trên lớp không khí gần mặt đất lợi cho quang hợp.

Bón amôn bicacbonat dùng cho ruộng màu cần bón sâu, lấp đất ngay để giảm sự mất amôn. Bón cho ruộng lúa, phân cũng có thể hòa tan trong nước gặp nhiệt độ cao cũng có thể bị mất đạm. Nếu nồng độ không cao sau khi bón làm cỏ sục bùn để phân quyện vào đất số lượng mất đi không nhiều. Các thí nghiệm đối với lúa Việt Nam trong nhiều vụ liền cho thấy hiệu quả của amôn bicacbonat không kém phân amôn sunfat là mấy.

Hiện nay ở một số địa phương Trung Quốc còn có sản xuất loại phân này và có một số được nhập vào Việt Nam theo tiểu ngạch. Amônn bicacbonat được sản xuất xem như sản phẩm phụ của sản xuất urê, tân dụng dung dịch amôn quá loãng không dùng làm urê được.

1.6. Canxi xianamit (CaCN2)

Canxi xianamit có hai loại trắng và xám đen tùy cách sản xuất. đó là một loại phân ở dạng bột có chứa 20-21% ở dạng xianua (CN2) và 20-28% CaO. Kho bón vào đất chuyển thành axit xianamic H2CN2 rồi thành urê, thành amôn bicacbonat nên cũng được xem là phân amôn.

Các sản phẩm trung gian của quá trình phân giải từ canxi xianamit thành amôn bicacbonat như canxi dixianamit axit xianamic đều có thể gây độc cho cây và gia súc cho nên sử dụng khó khăn và chỉ có thể dùng bón lót. Tuy nhiên các chất này lại có thể dùng để trừ diệt sâu, nấm, cỏ dại.

Canxi xianamit có tác dụng khử chua mạnh. Canxi xianamit có thể dùng bón thúc nếu được sử dụng trộn với đất 5-7 ngày trước lúc bón.

2. Các loại phân nitrat.

Phân chứa gốc nitrat được sử dụng rất sớm trên thị trường thế giới gồm natri nitrat, canxi-magie nitrat, kali nitrat và amôn nitrat.

Các loại phân nitrat hòa tan rất nhanh cây dễ sử dụng nên rất có lợi cho đất khô hạn nhưng lại rất rễ bị rửa trôi và mất đi, hiệu quả cho vùng mưa nhiều và vùng trồng lúa rất thấp. Phân rất dễ hút ẩm, dễ chảy nước nên gây khó khăn cho việc bảo quản ở vùng nhiệt đới ẩm. Khó khăn này đến nay nhờ kỹ nghệ chất dẻo phát triển, bao gói bằng chất dẻo không còn tốn kém như trước nữa nên không còn là vấn đề nan giải nữa. Điều làm cho loại phân này ít được ưa chuộng ở vùng này vẫn là sự rửa trôi nhanh chóng của phân trong đất.

2.1. Natri nitrat.

Phân đạm được sử dụng đầu tiên là natri nitrat. Natri nitrat được khai thác từ các mỏ Chile, có chứa 16% N và 25% Na2O và một ít vi lượng đặc biệt là Bo.

Loại phân này ít được sử dụng đơn độc vì tỷ lệ natri cao, khi bón nhiều làm hạt sét bị phân tán, đất bị chai lại như các vùng đất măn. Nó thường được sử dụng làm phân phức có chứa Na và Bo có lợi cho các loại cây lấy đường như mía, củ cải đường, các loại cây lấy củ như củ cải, cà rốt, khoai tây, khoai lang…

2.2. Canxi nitrat.

Canxi nitrat có nhiều loại, do cách sản xuất và tùy theo lượng nước chứa trong tinh thể. Cũng vì lý do đó mà hàm lượng đạm trong phân thay đổi nhiều. Loại phổ biến nhất là loại ngậm 4 phân tử nước và có hàm lượng Nitơ 15-15,5% và gần 25% CaO. Ngoài ra còn có loại canxi nitrat hỗn hợp với amôn nitrat, loại canxi nitrat có chứa lân. Đó cũng là một cách để phân bớt hút ẩm.

Canxi nitrat rất dễ hút ẩm nên được trình bày ở dạng viên bọc parafin hoặc bọc lưu huỳnh. Tính dễ hút ẩm mạnh làm cho canxi nitrat rất có lợi cho cây trồng vùng khô hạn.

Canxi nitrat là loại phân kiềm mạnh nên rất lợi cho các vùng đất chua. Một tỷ lệ canxi nitrat trong phân phức sẽ là nguồn cung cấp canxi thích hợp cho những vùng đất chua.

2.3. Canxi-magie nitat.

Canxi-magie nitrat được sản xuất bằng cách dùng đolomit kết hợp với axits nitric. Loại phân này có chứa 13-15% N và 8% MgO dễ tan. Loại phân này thường được sử dụng ở các loại đất mà người ta nghĩ rằng thiếu Magie.

2.4. Amôn nitrat.

Amôn nitrat từ lâu là loại phân chiếm vị trí hàng đầu trên thị trường phân bón. Từ khi xuất hiện urê, urê có chiều hướng được ưa chuộng hơn vì địa bàn sử dụng rộng rãi hơn. Urê thích hợp cho đất màu cũng như đất lúa nước, vùng khô hạn cũng như vùng mưa nhiều. Còn nitrat ít khi được dùng cho đất lúa, và vùng đất nhiệt đới mưa nhiều do nitrat dễ bị rửa trôi. Dẫu sao amôn nitrat vẫn được xem là loại phân cung cấp một lúc hai ion amôn và nitrat, đều có lợi cho cây.

Tùy theo tỷ lệ chất phù trợ để tạo viên và giảm sự hút ẩm mà amôn nitrat có tỷ lệ N khác nhau. Chất phù trợ thường dùng là bột CaCO3, bột CaCO3.MgCO3 (đolomit) sét hoặc kaolin. Khi không trộn chất phù trợ và chất bọc viên nó chứa 22% N. Tùy theo tỷ lệ N mà người ta chia ra làm 3 loại amôn nitrat.

- Loại amôn nitrat có tỷ lệ đạm thấp chỉ chứa 64% amôn nitrat và 36% CaCO3, hàm lượng N là 22%. Loại này dùng ở đất chua.

- Loại amôn nitrat có tỷ lệ đạm trung bình 26-27% N.

- Loại amôn nitrat có tỷ lệ đạm cao 33-34,5%.

Ngoài ra còn có một loại sunfonitrat là hỗn hợp giữa amôn sunfat và amôn nitrat có chứa 26% N trong đó có 7% ở dạng nitrat, 19% ở dạng amôn và 15% lưu huỳnh.

Amôn nitrat có 2 ưu điểm chính:

- Không làm chua đất.

- Đối với đất khô hạn thiếu nước hiệu quả cao hơn phân amôn, ban đầu gốc nitrat phát huy hiệu lực, sau đó gốc amôn phát huy hiệu lực tiếp theo.

Loại phân này có hiệu quả tốt đối với các cây ưu nitrat như bông, đây, mía, ngô khoai, cà phê, cao su, cây ăn quả lưu niên. Nhưng nó cũng có một sô nhược điểm:

- Dễ hút ẩm chảy nước nên khó bảo quản.

- Dễ rủa trôi và mất đi nên không thích hợp cho nhẹ và vùng mưa nhiều.

- Ở ruộng lúa nước, phân vừa bị mất đi do bị rửa trôi vừa bị mất đi do hiện tượng phản nitrat hóa. Phân amôn nitrat không phù hợp để trồng lúa nước. vì dễ bị rửa trôi nên bón phân amôn nitrat không nên dùng bón lót nhiều và cần bón nhiều lần.

2.5. Phân kali nitrat.

Là loại phân phức có chứa hai yếu tố phân bón chính N và K: 13% N và 44% K2O. Vì Kali trong phân cao hơn N nên thường dùng như một loại phân kali và dùng để sản xuất các loại phân phức.

3. Các loại phân lỏng có chứa amôn.

Thị trường phân bón Việt Nam không thuận lợi lắm cho việc tiêu thụ các loại phân lỏng vì cả hai mặt: Phương tiện vận chuyển bảo quản và bón phân chưa có, trang bị mới tốn kém; quy mô trang trại quá nhỏ không tiện sử dụng máy móc bón phân. Sau đây giới thiệu một số loại:

- Amôniac khan: là khí amôniac hóa lỏng ở nhiệt độ -330C và áp suất 20-30 kg/cm2. Phân được dùng loại máy bón đặc biệt kết hợp cùng máy cày đất đưa phân vào độ sâu 12-15 cm khi cày.

- Dung dich phân đạm: trên thương trường có các loại dung dịch amôniac có độ đậm đặc khác nhau và có các loại dung dịch hỗn hợp giữa urê và amôn nitrat và amôniac.

+ Dung dịch chứa urê với tỷ lệ đạm 20-25%.

+ Dung dịch chứa urê, amôn sunfat và amôn nitrat 26% N- tỷ lệ S là 7%.

+ Dung dịch chứa urê và amôn nitrat có chứa 36% N.

+ Dung dịch chứa urê và amôn nitrat có chứa 10% N.

+ Amiacat–dung dịch NH4NO3 kết hợp với NH4OH có chứa 20% N.

- Dung dịch amôniac loãng có chứa 25% NH3 tức 20% N.

Ở các nước phát triển, phân đạm lỏng được chú ý vì các lý do sau:

+ Giảm bớt sức người.

+ Tiết kiệm bao bì.

+ Bón đều và nhanh chóng vì dùng máy.

+ Có thể bón sâu có lợi cho vùng đất khô hạn.

+ Dễ dàng đưa thêm vi lượng, các hocmon và các thuốc trừ sâu hại.

4. Các loại phân đạm hiệu quả chậm.

Công nghiệp hóa học rất lưu tâm sản xuất các loại phân đạm ít hòa tan trong nước để làm giảm bớt tính di động của phân cung cấp từ từ cho cây, còn gọi là phân đạm hiệu quả chậm. Loại phân này có ưu điểm là ít bị mất đi do rửa trôi, do bay hơi, do bị khử thành nitơ tự do và do bị cỏ dại hút. Có 4 phương hướng để giải quyết vấn đề này:

- Sản xuất các loại phân đạm ở dạng hữu cơ phân tử lớn.

- Bọc phân bằng các màng phân hủy từ từ như màng lưu huỳnh.

- Dùng các chất hấp phụ như mùn hữu cơ, các chất sét có khả năng hấp phụ cao.

- Dùng các chất ức chế giáo trình nitrat hóa.

Cho đến nay, cả 4 cách đều chưa tìm được công nghệ hợp lý, giá thành rẻ và hiệu quả cao. Các loại phân đạm hiệu quả từ từ gặp trên thương trường là:

- Phân urê bọc lưu huỳnh và phân urê bọc sét bentonit.

- Phân urê foocmanđehyt là chất chất kết hợp giữa foocmanđehyt và urê. Loại phân thông thường có chứa 38% N.

- Phân phốtphat amôn magie là hợp chất của axit photophoric, NH3 và các loại chứa gốc NH2 như urê, foocmanđehyt urê và magie hydroxit có công thức MgNH4PO4.H2O. Loại phân này có tỷ lệ đạm thấp: 9%N. Đây là loại phân có hai yếu tố phân bón N và P đồng thời cho magie thường dùng để sản xuất phân phức hợp.

- Oxamit là loại hợp chất hữu cơ do kết hợp giữa axit oxalic và các ion amin có công thức COOC(NH2)2. Chất này thủy phân cho NH4OH. Có chứa tỷ lệ đạm 31,8%.

- Crotonilidien diurê là hợp chất của crotoandehyt và urê - sản phẩm có chứa 28% N và izo butianđêhit urê.

Bọc phân urê bằng lưu huỳnh hoặc bằng sét bentonit cho loại phân viên có tỷ lệ N khá cao. Loại phân bọc bằng lưu huỳnh có tỉ lệ 35% N và 19% lưu huỳnh và còn cho thêm một ít dầu diệt khuẩn để làm chậm sự oxy hóa lưu huỳnh thành sunfat.

Các chất có gốc xinua như xianoguanidin có tác dụng ức chế quá trình amôn thành nitrat làm cho phân chậm bị rửa trôi.

5. Chọn loại phân đạm như thế nào.

Tài liệu nghiên cứu về vai trò sinh lý của hai ion amôn và nitrat rất nhiều. Tuy nhiên thực tiễn chỉ ra rằng bón cây bằng đạm amôn và nitrat về mặt đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho cây không sai khác nhiều lắm. Nitrat được hút vào cây đều chuyển thành amôn để tham gia vào sự hình thành amino axit tạo ra protit. Amôn trong đất có thể hình thành nitrat để được hút hoặc được hút trực tiếp.

Vì rằng sự chuyển amôn thành nitrat trong đất có những mặt mà người ta cho rằng hoàn toàn có lợi:

- Nitrat được hút vào phải qua quá trình amôn hóa để tạo ra amino axit. Nếu thiếu hidrat cacbon, nitrat có thể tích lũy trong cây và lượng nitrat cao trong thực phẩm và thức ăn gia súc có thể gây độc.

- Nitrat trong đất dễ bị mất đi do phản ứng nitrat hóa. Vì vậy nhiều nhà nghiên cứu đề xuất dùng những chất hóa học để ức chế sự hoạt động của vi khuẩn chuyển amôn thành nitrat để nâng cao hiệu quả phân amôn, nhưng ion nitrat dễ được cây hút hơn amôn vì không bị keo đất giữ mạnh như ion amôn, đặc biệt ở những vung khô hạn. Cho nên, về mặt dinh dưỡng cây trồng, sự khác biệt giữa hai ion phân đạm nitrat và amôn không đáng để ý.

Việc chọn lựa tùy theo lượng mưa, chế độ cung cấp nước liên quan đến sự rửa trôi phân bón và phản ứng môi trường. Nói chung cùng ít mưa, nhưng năm khô hạn thì phân nitrat tốt hơn phân amôn và nhưng năm mưa nhiều hoặc vùng mưa nhiều phân amôn tốt hơn nitrat. Ruộng lúa chỉ nên dùng phân amôn, hạn chế dùng phân nitrat. Các vùng đất quá chua nên dùng các loại phân không gây chua (urê, amôn nitrat) hoặc các loại phân có khả năng khử chua ( canxi, kali, natri nitrat, canxi xianamit,..). Sự khác biệt về hiệu quả các dạng phân không lớn lắm, nhà nông khi chọn dạng phân chú ý nhiều hơn đến giá thành của 1 Kg N trong phân.

Sự phát triển của cách mạng sinh học, dần dần làm cho các yếu tố dinh dưỡng khác được chú ý hơn và dần dần được xem là yếu tố phân bón. Vì tác dụng ngày càng quan trọng của các yếu tố không phải N trong phân nên khi chọn dạng phân đạm người ta chú ý nhiều hơn đến các yếu tố khác có chứa trong phân: K,. Na, Ca, Mg, S, Cl. Sự tiện lợi trong khi bảo quản, ít hút ẩm, ít chảy nước, ít vón cục, không mất N và ô nhiễm môi trường do bay hơi amôn, sự tiện lợi khi sử dụng cũng là tiêu chuẩn được chọn lựa. Như vậy tiêu chuẩn chọn phân đạm được xếp theo thứ tự ưu tiên sau đây:

- Giá thành rẻ.

- Tiện lợi khi bảo quản, sử dụng.

- Không gây chua, cung cấp thêm yếu tố khác cho đất.

- Phù hợp với khí hậu, chế độ nước để có hiệu quả cao hơn.

- Trong các tiêu chuẩn, giá rẻ là tiêu chuẩn được nhà nông quan tâm chú ý nhiều nhất, vì rằng các tiêu chuẩn sua có thể khắc phục dễ dàng.

II. HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG PHÂN ĐẠM

1. Đạm là yếu tố phân bón đầu tiên cần chú ý bón cho cây trồng. vì hai lý do:

- Cây cần nhiều.

- Đất không cung cấp đủ đạm dễ tiêu (đạm ở dạng cây có thể hút được).

Cây trồng được cung cấp đủ đạm sinh trưởng nhanh, cành lá phát triển khỏe mạnh, tổng hợp được các chất tạo nên sinh khối, sản phẩm nông nghiệp. Vì vậy đạm là yếu tố then chốt quyết định năng suất. Đất nước ta trồng trọt lâu ngày nên rất thiếu đạm. Các vùng mới khai hoang nhiều mùn nhiều đạm nhưng lại thiếu đạm dễ tiêu. Cho nên gần như tất cả các loại đất, tất cả các lọa cây đều cần bón đạm. Chưa bón đủ đạm, bón các yếu tố khác đều không có hiệu quả.

Trong các khoản đầu tư vào phân bón, đạm vẫn phải được ưu tiên số 1. Đó là điều không cần và cũng không nên bàn cãi nhiều.

Tác dụng mạnh mẽ của đạm đến năng suất mọi người dễ dàng nhận biết, tác dụng ngược lại làm giảm năng suất cũng rất phổ biến.

2. Nhà nông cần tránh dùng đạm quá mức. Bón đạm quá mức thướng gây ra các hậu quả xấu sau đây:

- Cành lá phát triển mạnh nhưng ra hoa quả ít và muộn.

- Rễ phát triển ít mà nông. Phần trên mặt đất, cành lá rậm rạp, không cân đối với phần dưới mặt đất, cây dễ bị đổ.

- Cây lá rậm rạp, xanh non, ẩm độ cao, thiếu ánh sáng chiếu trực tiếp nên sâu bệnh phát triển nhiều hơn. Cành, thân, lá non mềm sâu bệnh dễ xâm nhập. Bón nhiều đạm sâu bệnh hại tăng.

Mặt xấu của đạm đến năng suất phẩm chất nông sản, sâu bệnh hại gần đây được nói đến nhiều. Thiết tưởng cần nói lại cho cân bằng. Cần thấy cả hai mặt đối lập. Bón ít đạm quá cây cũng ra hoa kết quả muộn và ít. Chỉ trên cơ sở cây phát triển đầy đủ mới phát dục tốt được.

Một số bệnh hại phát triển mạnh khi cây được bón quá nhiều đạm như bệnh đạo ôn, bệnh bạc lá úa, nhưng khi thiếu đạm lúa lại dễ bị bệnh tiêm lửa.

3. Làm cho sinh khối phát triển mạnh và sớm, làm cho sinh khối tạo ra chuyển mạnh thành sản phẩm thu hoạch thì năng suất sẽ cao. Đó là cơ sở để sử dụng phân đạm có hiệu quả. Có 3 cách để thực hiện điều này.

- Bón đạm sớm (lót và thúc đợt 1) để cung cấp đủ chất dinh dưỡng vào thời kì cây sinh trưởng phát triển mạnh. Thận trọng xem xét kĩ có cần thiết phải bón bổ sung đạm vào các thời kì sau lúc cây sắp ra hoa và lúc kết thành quả. Nếu có ít phân đạm, nên tập trung cung cấp vào lúc cây sinh trưởng mạnh nhất: lúa vào thời kì đẻ nhánh, ngô vào thời kì có ba lá thật đến sáu lá. Nếu có nhiều phân đạm hơn thì nên chú ý cả hai thời kì: thời kì cây sinh trưởng mạnh nhất và thời kì ra hoa. Nếu cây phát triển mạnh, hút hết chất ding dưỡng dự trữ trong đất, bón thêm một ít phân vào thời kì ra hóa sẽ có hiệu quả rất tốt.

- Lân, kali, silic làm cho các mô chống đỡ của cây phát triển, thân cành to và cứng cáp, hạn chế sự đổ thân (thân cây yếu dễ bị gãy, ngang thân). Lân, canxi làm cho rễ phát triển mạnh, ăn sâu hạn chế sự đổ gốc (rễ nông, cây cành rậm rạp, gốc dễ bị bật khi có gió to). Lân, kali, magie, mangan, bo xúc tiến sự ra hoa. Các chất này cũng ảnh hưởng tốt đến sự vận chuyển các chất dinh dưỡng về sản phẩm thu hoạch. Khi bón đạm cao nên bón thêm các yếu tố nói trên (lân, kali, magie, mangan, bo) để cân đối với tác động của đạm.

- Có những chất điều hòa sinh trưởng hạn chế sự vươn cao của thân, rút ngắn khoảng cách các đốt cây hòa thảo (ngô, lúa, lúa mỳ cao lương) như: clorocholinclorua (C.C.C). Bón sớm các chất này vào lúc các loài cây hòa thảo chuẩn bị bước vào thời kì vươn cao làm cho đốt cây ngắn lại, ống rạ dày thêm, như vậy sử dụng đạm cao an toàn hơn. Một số chất vi lượng, xúc tiến sự ra hoa kết quả có thể giúp khắc phục hiện tượng kết quả quá muộn do bón đạm cao.

Cần nói cho rõ ở đây, một số chất điều hòa sinh trưởng có tác dụng ngược lại đẩy mạnh sự sinh trưởng (nhóm các chất kích thích sinh trưởng). Xử lý bằng các chất này sẽ gây tác dụng ngược lại, cây sinh cành lá nhiều hơn và ra hoa kết quả chậm lại. cho nên không phải chất điều hòa sinh trưởng nào cũng có tác dụng nâng cao hiệu quả của phân đạm (xem phần sau).

Sử dụng phối hợp P, K, Ca, Mg, Si, các vi lượng và các chất điều hòa sinh trưởng trên nền đạm cao một các hợp lý là con đường phát huy hết tiềm năng năng suất của giống để đạt đến năng suất cao.

4. Nhiều tài liệu nói đến ảnh hưởng xấu của N đến phẩm chất nông sản. 

Hiện tượng này rất phổ biến. Bón đạm làm sản phẩm nhiều nước, ít đường hòa tan, ít tinh bột. Bón nhiều đạm trong điều kiện quang hợp yếu, đường bột không đủ để chuyển nitơ hút được thành chất hữu cơ có đạm (amino axit và protit). Nitơ sẽ tích lũy trong cây ở dạng nitrat (rau, quả) và các xianogen gây độc (sắn và các loại củ khác). Bón đạm quá cao (360 kg N) sẽ làm tăng lượng nitrat trong rau 23 ppm lên đến 601 ppm. Bón đạm quá nhiều làm rau nhạt, có khi còn có vị đắng, thuốc lá khó cháy, mía nấu khó thành đường, sợi đay không bền, sắn ăn dễ bị say, dâu tằm ăn dễ bị bệnh…

Tuy nhiên cũng sẽ rất lẫm lẫn nếu chúng ta không nhấn mạnh đến chữ quá nhiều mà chỉ nói đơn giản bón phân đạm làm giảm phẩm chất nông sản. Nếu không bón phân, không tưới đạm hoặc nước phân, rau sẽ dai mà không ngọt, mía không bón đủ đạm không nhiều nước mà cũng không có đường. lượng vitamin B2 trong rau khi không có N rất thấp, tăng dần sau khi bón tăng lượng đạm. Chỉ khi bón đạm quá cao mà hàm lượng vitamin B2 mới giảm. Bón đạm làm tăng hàm lượng protein thô mà cũng làm tăng cả lượng axit amin không thay thế nếu bón với mức vừa phải không quá lượng.

Các yếu tố P, K, Ca, Mg, Si và các vi lượng thường được xem là các yếu tố làm tăng phẩm chất nông sản.

Sự phối hợp thích đáng P, K, Ca, Mg, Si, các vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng tạo ra khả năng có thể bón đạm cao để đạt được năng suất cao mà vẫn giữ được phẩm chất nông sản tốt.

Nhiều người quy sự giảm phẩm chất nông sản, tích lũy đạm nitrat hay xianua gây độc cho người và gia súc là do bón đạm vô còn các nguồn đạm được cung cấp từ  các chất hữu cơ như phân chuồng phân xanh không gây ra hiện tượng này. Nên đặt ngược lại câu hỏi: vậy thì cây hút N ở dạng nào? ở dạng vô cơ hay hữu cơ? Cho đến nay chưa có nguồn thông tin nào về khả năng cây trồng có thể sử dụng đơn thuần chất hữu cơ trong đất để đảm bảo nhu cầu của cây phát triển.

Sự khác nhau giữa nguồn đạm cung cấp từ các loại phân hữu cơ và phân đạm vô cơ là ở chỗ các loại phân hữu cơ ngoài đạm ra còn cung cấp nhiều yếu tố khác P, K, và vi lượng. Chính sự cung cấp cân đối N, P, K và vi lượng cho cây làm cho phân hữu cơ có ảnh hưởng tốt đến chất lượng sản phẩm. Có thể sửa chữa mặt yếu này của phân đạm vô cơ bằng cách bón phân cân đối, tức là bón kết hợp các yếu tố khác với phân đạm.

Nhiều kết quả nghiên cứu chứng minh rằng, lượng nitrat trong sản phẩm liên quan chặt chẽ đến sự cung cấp đạm và quang hợp thời kì trước lúc thu hoạch. Sau khi được cây hút, nitrat có thể chuyển thành amôn rồi chuyển thành amino axit, thành protit. Sự a môn hóa nitrat liên quan đến quá trình khử trong cây. Còn sự tạo thành amino axit liên quan đến quá trình quang hợp. nếu có đủ thời gian và điều kiện để cây quang hợp mạnh tạo ra gluxit, chuyển hết lượng nitrat và amôn cây hút được tạo thành amino axit thì hàm lượng nitrat trong cây không cao đến mức gây độc.

Thời gian bón đạm trước lúc thu hoạch do đó quyết định lượng nitrat tồn dư trong rau. Để hạn chế lượng nitrat tồn dư trong rau nên bón đạm trước lúc thu hoạch rau ít nhất 10 ngày.

Bảng 1. Bảng thống kê các loại phân đạm

1. Phân amôn

 

 

 

Amôn sunfat

20 - 21 % N

 

(S.A)

 

23- 24 % S

 

 

 

Thể tích 90 - 100 dm3/100 kg

Amôn Clorua

22,5 - 23 % N

 

(A.Cl)

 

73 % Cl

 

 

 

 

Thể tích 80 - 90 dm3/100 kg

Diamôn phôtphat

18 - 20% N

 

(DAP)

 

46 - 50 % P2O5

 

 

 

Thể tích 90 - 110 dm3/100kg

Urê viên

 

45 - 46 % N

 

U

 

(trong đó biurê chiếm < 1,2 %)

 

 

Thể tích 135 - 155dm3/100 kg

Urê phôtphat

29 % N

 

 

(UP)

 

29 % P2O5

 

Foocmanđêhyt urê

10 % tan trong nước 250

 

 

28 % N tan trong nước 98 – 1000

 

 

38 % N tổng số

 

A môn bicacbonat

 

 

 

(ABC)

 

17,5% N

 

 

Canxi xianamit

20 - 21 % N

 

 

 

20 - 28 % CaO

 

2. Phân nitrat

 

 

 

Natri nitrat

16 % N

 

 

 

 

25 % Na2O

 

 

 

Thể tích 80 - 90dm3/100kg

Canxi nitrat

15 - 15,5 % N

 

 

 

25 % CaO

 

 

 

Thể tích 85 -100dm3/100kg

Canxi-magie nitrat

13 - 15 % N

 

 

 

8% MgO

 

 

A môn nitrat

 

 

 

Loại có nhiều Canxi

22 % N

 

 

 

 

36 % CaCO3

 

Loại có ít Canxi

26 - 27% N

 

 

 

30 % CaO

 

Loại thông thường

33 - 34,5 % N

 

Trong đó

26 % N ở dạng nitrat

 

 

 

17 % N ở dạng amôn

 

 

Thể tích riêng 115-135 dm3/100kg

Amôn sufonitrat

26 % N

 

 

Trong đó

7% N ở dạng nitrat

 

 

 

16% N ở dạng a môn

 

 

15 % S

 

 

Kali nitrat

13 % N

 

 

 

 

44% K2O

 

 

Phốtphat amôn magie

 

 

 

 

9 % N

 

 

Urê bọc lưu huỳnh

 

 

 

(SCV)

 

39 % N

 

 

 

 

10 % S

 

 

Oxamit

 

31,8 % N

 

 

Crotoniliddien điurê

28 % N trong đó có 10 % N dạng nitrat

( CDU)

 

 

 

 

isobutilidien diurê

31 %N

 

 

IBDU

 

 

 

 

Dixianamit (DCA)

42 % N

 

 

Thiurê (T.U)

36 % N

 

 

5. Chỉ nên bón đến mức đạt 75% tiềm năng năng suất của giống. 

Thông thường, khi tăng lượng bón đạm, năng suất sẽ tăng theo đến đỉnh nhất định. Đỉnh đó tùy thuộc trước hết ở mức năng suất giới hạn (năng suất cao nhất) của từng giống. Sau khi đạt đỉnh tối đa, nếu bón  thêm phân năng suất hoặc không tăng (thường gặp đối với lân và kali, Ca, Mg,Si) hoặc giảm xuống (thường gặp với đạm, lưu huỳnh). Lượng bọn đạm đạt năng suất tối đa gọi là ngưỡng đạm tối đa của giống. Đừng nên bao giờ bón đạm đến ngưỡng tối đa vì các lý do sau đây:

- Không  kinh tế. Lượng đạm bón hơn về sau bao giờ cũng thấp hơn lượng bón trước. Ví dụ: ngưỡng đạm bón tối đa cho giống lúa 203 là 150 kg N những ở mức bón 60 kg, 1 Kg N có thể làm tăng 20 Kg thóc, từ mưc 60 kg đến 90 kg N 1kg N chỉ tăng 16 kg thóc, từ mức 90 kg đến 120 kg N 1 kg N chỉ tăng 10 kg thóc và từ 120 kg đến 150 kg N 1 kg N chỉ tăng 4 kg thóc. Từ đó lãi suất thấp dần và bón từ mức 120 đến 150 kg N chưa chắc đã có lãi nếu giá phân cao mà giá thóc hạ, thậm chí còn lỗ.

- Nguy hiểm. Cây trồng lấy đạm từ hai nguồn: đất và phân bón. Đạm trong đất phần lớn ở trong chất hữu cơ. Khi nhiệt độ và ẩm độ đất thích hợp, chất hữu cơ. Khi nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, chất hữu cơ trong đất phân giải nhanh, huy động ra cung cấp nhiều cho cây. Nếu vào những năm thời tiết thuận lợi, nắng ấm, mưa đều mà vẫn bón lượng đạm cao như những năm thời tiết không thuận sẽ dẫn đến nguy cơ thừa đạm làm giảm năng suất.

Đồ  thị biểu diễn tương quan giữa lượng bón N với năng suất và phẩm chất nông sản

Đồ  thị biểu diễn tương quan giữa lượng bón N với năng suất và phẩm chất nông sản

Mức bón đạm nên thấp hơn ngưỡng tối đa của giống ít nhất 30 kg N ( 60 Kg N urê 1 ha). Khi mức bón đạm tăng lên, phẩm chất nông sản cũng tăng dần đến mức tối đa rồi giảm xuống. Đỉnh tối đa của năng suất thường tương ứng với lượng đạm cao hơn đỉnh tối đa về phẩm chất.

Nói cách khác khi tăng dần lượng bón phân đạm đỉnh tối đa về phẩm chất đến sớm hơn đỉnh tối đa về năng suất.

Vì vậy, để giữ được phẩm chất rau, đậu rau, quả, tức là các cây thực phẩm cung cấp đường, chất béo và vitamin nên hi sinh một phần năng suất để đảm bảo phẩm chất. Nên bón lượng đạm vừa phải cho rau, đậu rau và quả.

Điều đó càng cần chú ý cho rau và quả vận chuyển đi xa, hoặc dùng đóng hộp, muối để cất trữ. Rau cải, hành dùng để muối dưa nếu bón quá nhiều N sẽ dễ thối, cần bón ít đạm hơn rau để nấu canh hoặc luộc ăn sống. Khi sản xuất hạt giống neus bón nhiều đạm hạt sẽ không mẩy, nhiều hạt lép, nhiều nước nhiều đạm tự do làm cho hạt dễ mất sức nảy mầm khi cất trữ. Ruộng làm giống nên bón ít đạm, tăng lân và kali, chú ý các chất khác như Mg và B.

Đối với cây lấy đường (mía) bón đạm quá đến mức năng suất cây cao, nhưng nước nhiều tỷ lệ đường thấp, đạm trong nước mía cao làm cho khó nấu thành đường.

6. Không cần chú ý nhiều đên dinh dưỡng đạm trong đất.

Câu hỏi thực tiến đạt ra là làm thế nào định được lượng bón đạm hợp lý và kinh tế nhất.

Nhiều công trình nghiên cứu về cách xác đinh lượng đạm mà đất có thể cung cấp cho cây để hiệu chỉnh lượng bón theo đất. Đạm trong đất phần lớn nằm ở dạng đạm hữu cơ. Phần đạm khoáng chỉ chiếm khoảng 5%. Đất nhiệt đới tỷ lệ đạm khoáng có cao hơn. Hàng năm có khoảng 1-1,5% đạm hữu cơ dự trữ trong đất chuyển thành dạng nitrat cây sư dụng được. Đất nước ta rất ít đất có đến 2% mùn, lượng đạm tổng số trong đất rất ít khio vượt quá 0,2 %. Như vậy số lượng đạm ở dạng hữu có được huy động ra hàng năm 1 - 3 phần vạn trọng lượng đất. Trên lớp đất canh tác dày 20 cm số lượng đạm được huy động ra hàng năm để cung cấp cho cây trồng ít khi vượt qua 90 kg N hàng năm. Chênh lệch giữa đất nghèo và đất giàu về khả năng cung cấp N cho cây hàng năm khó vượt quá 30 kg một năm. Phân tích đất để hiệu chỉnh lượng đạm bón cho cây hàng năm trở thành vô nghĩa. Đối với cây lâu năm lại không cần thiết.

Xác định lượng bón đạm cho cây phụ thuộc nhiều vào cây và thời tiết khí hậu vụ trồng hơn là phụ thuộc vào đất. Không cần thiết phải phân tích đất để định lượng phân đạm cần bón.

Các tư liệu phân tích đều không cho phép đưa ra những kết luận đúng đắn hữu ích vì rằng hệ số khoáng hóa chất hữu cơ và số lượng được khoáng hóa ra phụ thuộc vào trữ lượng đạm trong đất nhưng cũng phụ thuộc vào khí hậu, kết cấu đất, độ thoáng khí của đất tức là kỹ thuật canh tác kèm theo.

Nhu cầu về đạm của cây trồng rất lớn. Kể cả các cây có nốt sần của vi sinh vật cố định đạm cộng sinh như đậu tương, lạc, đậu đỗ cũng cần bón đạm. Bón đủ đạm làm cho rễ cây và cây phát triển mạnh cung cấp hữu cơ cho quá trình cố định N. Những kết quả nghiên cứu gần đây ở nước ta cho thấy rằng đến cả các cây phân xanh họ đậu như cốt khí, muồng, keo tai tượng, keo lá chàm ...trồng trên các vùng đất bạc màu, đất xám, đất đồi dốc nghèo mùn cũng cần bón đạm.

Xác định lượng đạm cần bón trước hết là dựa trên nhu cầu của cây. Các giống cây trồng cho năng suất rất khác nhau và cũng có nhu cầu được bón đạm khác nhau. Đã qua rồi khái niệm lượng bón đạm chung chung cho ngô, cho lúa hay cho một cây nào đó. Cuộc cách mạng giống cây trồng phất triển như vũ bão đòi hỏi xác định lượng bón cho từng giống cây trồng (dạng sinh học) cụ thể. Các nhà chọn giống khi đưa một giống cây ra sản xuất cần có hướng dẫn năng suất sinh vật tối đa và lượng đạm cần thiết để đạt năng suất tối đa.

Một phương trình tương quan bậc hai y = ax2 + bx + c giữa năng suất và lượng đạm bón sẽ rất có ích cho người chuyển giao giống (các nhà khuyến nông) hướng dẫn cho từng nông dân số lượng đạm cần bón để đạt được năng suất mong muốn.

Căn cứ trên phương trình này nông dân cũng có thể tùy theo giá phân bón và giá nông sản hàng năm để tíh xem bón nhiều hay bón ít thì có lãi nhất.

7. Trông trời trông đất trông mây. 

Thời tiết của vụ trồng cụ thể ảnh hưởng đến lượng đạm cần bón. Trước hết là nhiệt độ và lượng mưa. Thời tiết lạnh, ít mưa, cần bón nhiều đạm cho cây hơn. Cây lúa đông xuân thường cần bón đạm nhiều hơn lúa gieo trồng vụ thu và vụ mùa khoảng 30 – 40 kg N/ha gieo trồng. Vụ đông xuân thiếu ánh sáng cần bón P, K nhưng cũng cần bón đạm nhiều hơn.

Theo thời tiết, trông cây mà bón đạm. Điều đó đòi hỏi nhà nông phải quan sát và đoán định. Không có lượng đạm cứng nhắc mà chỉ có lượng đạm hướng dẫn để đạt năng suất dự kiến. Đạt được cao hơn hay thấp hơn còn tùy điều kiện thời tiết và tài vận dụng của nhà nông để khắc phục điều kiện thời tiết đó.

8. Tất cả các loại phân đạm sử dung trên thị trường hiện nay đều là loại phân dễ tan trong nước dễ di chuyển ngang ra chung quanh nơi bón và thấm xuống sâu.

Nhờ đó, cây sử dụng đạm rất nhanh mà đạm cũng mất đi rất nhanh. Sự di chuyển đạm trong đất nhanh hay chậm tùy thuộc đất nặng hay nhẹ (ảnh hưởng đến khả năng hấp thu của đất) nước nhiều hay ít (ảnh hưởng đến sự hòa ta đạm vào nước trong đất và bị rửa trôi xuống sấu thoe trọng lực) va lượng hữu cơ và mùn trong đất. (ảnh hưởng đến sự hấp thu của đất và sự chuyển đạm vô cơ thành hữu cơ). Điều kiện nước ta hữu cơ và mùn không nhiều. Ảnh hưởng chính đến sự di chuyển và rửa trôi đạm chủ yếu là địa hình liên quan đến mực nước ngầm cao thấp, đất nặng hay nhẹ, lượng mưa hàng năm và kĩ thuật tưới. Nói chung, trong điều kiện khí hậu nước ta, nếu cộng cả sự di chuyển và sự hút của cây sau khi bón đạm khoảng 2 – 4 tháng hiệu lực phân đạm bón vào còn lại trong đất đã không đáng kể. Trên đát cát thời gian còn ngắn hơn. Chia lượng đạm bón làm nhiều lần trong một vụ làm tăng hiệu quả phân đạm.

Số lần bón phân đạm không nên quá nhiều và thay đổi theo lượng bón. Nếu lượng phân đạm quá ít nên tập trung vào thời kỳ cây sinh trưởng mạnh nhất, là thời kỳ cây cần đạm nhất: Với lúa vào thời kỳ đẻ nhánh, với ngô vào thời kỳ vươn đốt. Các cây họ đậu có nhu cầu bón đạm thấp, khoảng 20 kg – 40 kg N /ha cho đậu tương, lạc. Lượng đạm này nên tập trung vào lúc cây còn non chưa kịp hình thành nốt. Nói chung đạm ít khi bón lót cùng hạt giống. Đạm hòa tan nhiều vào nước trong đất làm cho nồng độ muối tan của dung dịch đất tăng cao làm hạt mất sức nảy mầm, rễ bị thui.

Kết quả nghiên cứu gần đây đề xuất kỹ thuật bón đạm lót lúc bừa cấy cho lúa ngắn ngày năng suất cao. Cơ sở của kỹ thuật này là làm cho đạm trộn lẫn vào đất được cất giữ sau đó chuyển dần ra cung cấp điều hòa cho cây lúa ở các thời kỳ sau đồng thời bảo đảm kịp thời nhu cầu rất cao của cây lúa thời kì đẻ nhánh, giảm bớt sự mất đạm. Có những đề nghị táo bạo hơn: bón lót toàn bộ lượng đạm cần bón. Tất nhiên kỹ thuật này chỉ áp dụng cho lúa ngắn ngày thời gian sinh trưởng dưới 120 ngày, lượng đạm bón cao và trên đất từ sét đến thịt nặng. Đất nhẹ đặc biệt là đất cát không nên áp dụng kỹ thuật này. Đất mặn, đất phèn nhiều khi gặp mặn, phèn bốc lên cần rửa cũng cần thận trọng khi áp dụng kỹ thuật này vì khi rửa mặn, rửa phèn sẽ rửa luôn cả phân đạm được bón vào.

Kỹ thuật bón lót sớm phân đạm cho lúa tốt cho vụ lúa đông xuân hơn là vụ hè thu và vụ mùa. Vụ đông xuân rét, hoạt động phân giải chất hữu cơ trong đất yếu, giai đoạn đầu đát không cung cấp được nhiều đạm cho cây, cần được bổ sung bằng phân hóa học. Khi thời tiết ấm dần lên, đạm ở chất hữu cơ trong đất chuyển dần ra nhiều nếu bón thêm đạm cây lúa dễ bị thừa đạm mà bị lốp, đổ. Vụ mùa, đầu vụ nóng ẩm, cuối vụ nhiệt độ giảm dần. Đạm trong đất, do cả hai nguyen nhân bị cây hút gần cận ở giai đoạn trước và sự chuyển từ đạm hữu cơ trong đất cho cấy bị chậm lại do nhiệt độ thấp nên cung cấp không đủ cho cây. Dành phân đạm để bón đón đòng hoặc nuôi đòng có khả năng làm tăng năng suất lúa. Lúa vụ hè thu có đặc điểm là thời gian sinh trưởng ngắn, và nhiệt độ, lượng mưa đều suốt vụ. Mặt khác cấy vụ hè thu tiếp ngay sau vụ đông xuân, đất đã bị vụ trước lấy đi kiệt màu. Dành một lượng lớn bón lót vào lúc bừa cấy sẽ cho hiệu quả cao.

Đạm trong đất di chuyển dễ dàng và có thể di chuyển theo hai chiều:

Hòa tan trong nước và di chuyển xuống sâu theo trọng lực; di chuyển trở lại lớp đất mặn theo nước mao quản (nước nhờ lực mao quản leo theo các mao quản trong đât) khi đất khô hạn.

Bón đạm làm sao để khi đạm di chuyển đến gặp tầng đất có rễ phát triển nhất. Các vùng mưa nhiều, phân đạm thường được bón nông trên lớp đất mặt để cho khi phân trôi xuống sâu vừa gặp rễ. Vùng khô hạn, vùng mặn trái lại phân nên bón sâu. Bón như vậy có hai mặt lợi:

- Làm cho rễ ăn xuống sâu nhờ đó tìm được nước, chống được hạn.

- Khi phân theo nước mao quản đi lên gặp được rễ.

Khi bón phân cần đảo đều cho phân trộn đều với đất.

Tuy rằng nói bón cho đúng thời kỳ nhưng cần kết hợp bón phân với làm cỏ xới xáo, vun gốc để đỡ công.

GS Võ Minh Kha, Hướng dẫn thực hành sử dụng phân bón, NXB Nông nghiệp, Hà Nội,1996.

Bình luận